- Thuật nghữ Internet
- 10 điều cần biết để bạn có một Blog hay
- 6 bước lập kế hoạch phản công phần mềm có hại
- Mẹo vặt dùng cho văn phòng
- Giải pháp email trong Linux
1. Cấu trúc một địa chỉ IP
Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte -> IP có kíck thước là 4 byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
2. IP thể hiện điều gì?
Trên mạng Internet nó sẽ xác định chính bạn. Khi kết nối vào mạng IP của bạn là duy nhất trên thế giới. Tuy nhiên số này chưa hẳn là cố định. Nếu bạn vào mạng qua một ISP thì số IP của bạn sẽ thay đổi ở các lần bạn kết nối. Một người biết IP của bạn thì có thể lần ra vị trí của bạn. Nghĩa là khi có IP thì biết được địa chỉ của ISP rồi biết được thông tin của bạn. Trên thực tế, IP cho biết về máy tính được sử dụng để vào mạng chứ không cho biết thông tin về người sử dụng, trừ khi IP của bạn là cố định hoặc sử dụng account của riêng bạn.
3. Sự khác nhau giữa tên miền (domain name) và một địa chỉ IP
Đơn giản chỉ bởi vì việc gọi tên, ví dụ www.yourname.com sẽ dễ hơn nhiều đối với việc phải gọi 202.32.156.14. Tuy vậy, có một sự khác biệt quan trọng giữa 2 điều này. IP là số để xác định thiết bị (device) còn hostname là một mối liên kết giữa 1 từ khoá và một số IP. Một địa chỉ IP có thể có nhiều hostname khác nhau nhưng một hostname thì chỉ có một IP liên kết với nó.
4. IP spoofing là gì
Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ. Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
5. Cổng ảo là gì? (Virtual Port)
Cổng ảo là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP (Tranmission Control Protocol) và UDP (User Diagram Protocol) header (hiện có lẽ bạn còn xa lạ với 2 từ này, chúng tôi sẽ đề cập sau). Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu. Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SMTP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân.... Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080/ , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này "map" từ 80 thành 8080.
6. RFC là gì
RFC là viết tắt của Request For Comment, là tập hợp những tài liệu về kiến nghị, đề xuất và những lời bình luận liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến công nghệ, nghi thức mạng INTERNET. Các tài liệu RFC đựợc chỉnh sửa, thay đổi đến khi tất cả các kỹ sư thành viên của IETF(Internet Engineering Task Force) đồng ý và duyệt, sau đó những tài liệu này được xuất bản và được công nhận là 1 chuẩn, nghi thức cho Internet. Tài liệu RFC nổi tiếng và làm tạo được tiếng vang lớn nhất là tài liệu RFC số 822 về Internet Email bởi Dave Crocker.
Trang chủ của RFC: http://www.ietf.org/rfc.html
7. DNS là gì? Tại sao ta lại dùng DNS, DNS làm việc ra sao, tên miền là gì, etc...?
DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 --> localhost và localhost--->127.0.0.1 Hệ thống "tên đến địa chỉ" (name-to-address) được dùng trước đây khi DNS chưa ra đời, đây thực chất là 1 file trên server. Cấu tạo của 1 file này là 1 table với "hostname" và địa chỉ IP tương ứng, file này được cập nhật và bảo quản bởi Standford Reserch Institute Network Information Center (SRI-NIC). Vài lần 1 tuần, tổ chức này lại cập nhật nội dung file này. Những nguòi quản trị mạng nếu cần sẽ download file này xuống để dùng cho local DNS. Dần dần, số lượng của các trang web trên internet ngày càng nhiều. Cách cũ dùng "name-to-address" trở nên thiếu hiệu quả và tốn thời gian --> DNS ra đời. DNS ko phụ thuộc vào bất cứ 1 server riêng rẽ nào, DNS được phân phát cho nguòi dùng dưới dạng 1 file cơ sở dữ liệu, file này được giũ trên khắp các DNS server trên toàn thế giới. Mỗi DNS server đều tự tìm kiếm một DNS cao hơn khi nhân được yêu cầu về 1 host nào đó ko có trong cơ sở dữ liệu trên máy mình.
8. Máy chủ DNS (DNS Server)
DNS server là 1 máy tính bình thường có thể PC(/MAC) chạy UNIX hoặc nhân bản của Unix (Linux,etc..) và chay một chương trình quản lý domain name gọi là BIND (Berkely Internet Name Domain). DNS server có thể chạy các hệ điều hành khác như Windows, MacOS nhưng thường thì *nix hay được chọn hơn cả vì unix có tính bảo mật cao hơn và cho phép lượng truy cập lớn hơn. Chương trình quản lý DNS được thiết kế chia làm 2 phần, phần thứ nhất là 1 "daemon" nghe ở cổng 53 đợi kết nối. Phần thứ 2 là để gửi yêu cầu lên một DNS cao hơn nếu local database ko có thông tin mà máy khách yêu cầu. Phần thứ nhất (daemon) trả lời trình duyệt web mỗi khi nhận được yêu cầu. Ví dụ, khi bạn mở Internet Explorer và đánh vào www.3c.com, trình duyệt của bạn sẽ gửi yêu cầu đến 1 máy chủ có dịch vụ DNS gần nhất để tìm IP của www.3c.com vì trình duyệt của bạn cần biết IP máy chủ hiện đang lưu trữ trang web www.3c.com. Máy chủ DNS ở ISP của bạn sẽ tìm trong cơ sở dữ liệu, nếu ko tìm thấy địa chỉ IP cho www.3c.com máy chủ chạy DNS này sẽ chuyển sang phần thứ 2 là đưa yêu cầu của máy khách đến 1 máy chủ DNS cao cấp hơn, nhiều dữ liệu hơn để giải quyết.
9. Định dạng cây của DNS (tree formation)
Một khi DNS server ko thể tìm thấy số IP tương ứng cho 1 hostname trong cơ sở dữ liệu của mình, server đó sẽ gửi yêu cầu đến 1 DNS server khác cao hơn 1 bậc, và DNS server này sẽ lặp lại quá trinh mà DNS server dưới đã làm để tìm địa chỉ IP của 1 host nào đó. Nếu DNS server này vẫn ko tìm thấy thì yêu cầu sẽ lại được gửi đến 1 DNS server khác cao hơn nữa và quy trình này sẽ được tiếp tục cho đến khi nào ra kết quả. Kết quả của yêu cầu này chỉ có thể là "Tìm Thấy" hoặc "Ko tìm thấy". :-) . Đến thời điểm này, chắc bạn đã hình dung ra được cấu trúc của các DNS server như thế nào rồi? Nếu chưa, hãy nhìn vào ví dụ dưới đây
Ví dụ nhà cung cấp internet của bạn là FPT. Trang web đặt trên máy chủ của FPT là www.fpt.vn. Mặc định, DNS server sẽ là dns.fpt.vn. Bây giờ bạn muốn truy cập www.3c.com.vn dns.fpt.vn sẽ tìm thông tin về host này ở trong cơ sở dữ liệu trên máy chủ DNS ở FPT xem ai đó đã gửi thông tin truy cập về host này chưa. Nếu điạ chỉ 3c ko được tìm thấy ở "local database" hoặc trong bộ nhớ, dns.fpt.vn sẽ đưa yêu cầu này đến 1 DNS server cao cấp hơn, ở đây sẽ là "dns.vn". DNS server này quản lý tất cả các trang có đuôi .vn. Tuy nhiên server này có thể ko có địa chỉ này trong cơ sở dữ liệu nhưng có thể có vì có thể ai đó đã truy cập trang này. Nếu ở đây vẫn ko tìm thấy host/ip cần tìm, DNS server này cuối cùng phải gửi request đến DNS server lớn nhất quản lý tất cả các domain gọi là ".root". Máy chủ chạy .root DNS này là một máy tính rất mạnh, và cơ sở dữ liệu của .root này bao gồm tất cả các loại domain trên toàn thế giới. như .com , .net , .mil, .co.uk, vân vân...
Theo 3c
10 điều cần biết để bạn có một Blog hay
1. Xác định phạm vi của blog
Việc đầu tiên trước khi bạn muốn bắt đầu xây dựng blog là việc bạn hãy xác định phạm vi mà blog bạn sẽ hướng đến. Blog của bạn sẽ được thành công rực rỡ nếu bạn biết về điều mà bạn sẽ làm nó một cách xuất sắc nhất. Bạn sẽ bắt đầu blog của bạn về lĩnh vực gì đây? Bạn có kinh nghiệm về kinh doanh? Hay chỉ đơn thuần là bạn muốn vui vẻ, chia sẻ quan điểm và ý tưởng với cộng đồng mạng? Phạm vi mà bạn chọn có thể rộng hoặc hẹp lệ thuộc và lý do tại sao bạn muốn bắt đầu một blog. Nghĩ đến những thông tin mà bạn sẽ cung cấp cho blog của mình trong vòng 6 tháng - một năm hoặc ba năm. Sau đó bắt đầu thiết kế, viết bài và làm cho blog của bạn luôn bám sát mục tiêu mà bạn đã lựa chọn.
2. Xác định độc giả của blog
Blog của bạn được thiết kế và nội dung của nó có đáp ứng được sự kỳ vọng mà những độc giả ghé thăm. Cho ví dụ, nếu những thông tin mà bạn cung cấp phù hợp với sở thích của độc giả và hỗ trợ đầy đủ để giải quyết vấn đề nào đó cho độc giả quan tâm thì bạn đã thành công được một nửa. Hãy nghĩ xem blog của bạn sẽ là nơi mà nhóm độc giả này thường xuyên ghé lại. Và nhớ đừng làm cho độc giả của bạn cảm thấy rối tung khi đọc bài nào đó hoặc duyệt một chuyên mục nào đó.
3. Tính nhất quán
Blog của bạn là một thương hiệu. Với những nét đặc trưng của sự trình bày về bài viết cũng như những hình ảnh trên blog của bạn. Cần phải có một sự nhất quán trong mọi đối tượng được trình bày trên blog của bạn.
4. Sự ổn định
Một blog thành công phải là một blog có ích và được cập nhật thường xuyên và đây cũng là sự khác biệt giữa blog và một website tĩnh. Nếu blog của bạn không được cập nhật thường xuyên và định kỳ thì phần lớn các độc giả của bạn sẽ chẳng quay lại vào lần thứ 3. Cách tốt nhất để giữ độc giả quay lại là hãy luôn luôn làm mới cho nội dung của blog.
5. Tính hấp dẫn
Một điểm khác biệt khác của mạng xã hội là sự hấp dẫn của những bài viết – thể hiện nhiều quan điểm không tuân theo bất kỳ nguyên tắc nào. Một bài viết hấp dẫn sẽ làm cho blog của bạn có nhiều nhận xét từ độc giả - bằng cách hỏi độc giả của về chủ đề mà họ đang quan tâm và khuyến khích họ nhận xét sau mỗi kết thúc của bài viết.
6. Sự rõ ràng
Sự thành công của blog luôn tương đồng với công sức bạn bỏ ra cho nó. Những công sức trên bao gồm việc tìm kiếm những blogger khác có cùng sở thích và nhận xét trên blog của họ. Sử dụng những công cụ như: Digg và Technorati và tham gia vào các mạng xã hội khác như Facebook hoặc LinkedIn. Xây dựng một blog không phải là việc đi chứng minh: "Nếu bạn làm một blog bạn sẽ thành công." Thay vào đó, phát triển một blog thành công yêu cầu bạn phải làm việc chăm chỉ, trau chút nội dung một cách tỉ mỉ và tất cả những gì bạn trình bày trên blog cần phải rõ ràng.
7. Sử dụng công cụ
Tất cả người bắt đầu phát triển blog đều quan ngại khi blog được cung cấp thêm những công cụ mới – những tính năng mới. Hãy luôn thử những điểm mới này trên blog của bạn. Lựa chọn những công cụ và những tính năng thích hợp – phù hợp với phạm vi blog của bạn.
8. Tạo mối quan hệ
Không ai có thể biết mọi thứ trên đời, vì thế hãy tạo những mối quan hệ tốt trên cộng đồng để cùng nhau phát triển cộng đồng một cách lớn mạnh. Quan trọng nhất vẫn là các blogger là một mắc xích của cộng đồng này – những blogger tên tuổi thường phải chú ý đến những blogger mới – còn ít kinh nghiệm. Trợ giúp họ và bạn lại có thêm một thành viên mới trong mạng của bạn. Luôn nhớ rằng, bạn chỉ thành công trong cộng đồng mạng khi bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác dù là một một blogger mới bắt đầu hay blogger chuyên nghiệp.
9. Luôn học hỏi
Điều này giống như việc mỗi ngày lại có thêm nhiều công cụ mới cho các blogger. Internet thay đổi chóng mặt và blog cũng không loại trừ trong dòng chảy này. Nếu bạn là một blogger bạn phải bỏ thời gian để tìm kiếm những công cụ mới và những tính năng mới hỗ trợ blog. Bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra những điều bạn tìm thấy giúp cho việc phát triển blog của bạn trở nên dễ dàng hơn và làm cho độc giả hiểu được giá trị mà blog của bạn mang lại.
10. Hãy là chính mình
Luôn nhớ, blog là của bạn và độc giả sẽ đọc những bài viết của bạn và họ sẽ quay trở lại để xem bạn viết gì. Đừng để blog của bạn như một tờ báo, hãy để blog của bạn giống bạn, giống cách bạn nói chuyện, giống cách suy nghĩ của bạn và giống trái tim của bạn.
6 bước lập kế hoạch phản công phần mềm có hại
Với tư cách là quản trị viên bảo mật, chúng tôi cố gắng đi tiên phong trong lĩnh vực này-- áp dụng các miếng và cập nhật, thử nghiệm thâm nhập và thiết lập sử dụng các chính sách. Không may, đôi khi mọi sự phòng bị trên thế giới cũng không thể bảo vệ hệ thống của bạn trước sự truyền nhiễm của các phầm mềm có hại—có thể là virut, worm hay một số các phần mềm có hại khác. Vậy phương pháp tốt nhất để xử lý nó là gì?
Các biến cố bảo mật thường xuyên thay đổi cả về kích thước lẫn mục đích hướng vào. Vì vậy việc cấp bách là phải có một chính sách đúng chỗ, một kế hoạch đáp trả cần phải phụ thuộc vào thực tế.
Một kế hoạch phản công lại không phải là tập trung vào sự tấn công tích cực mà thay vào đó, nó cần tập trung vào chất lượng bên trong hệ thống của bạn.
Phải hiểu rõ phần mềm có hại là gì?
Phần mềm có hại là các mã nguy hiểm hay phần mềm được bí mật đưa vào hệ thống để xâm nhập tính bí mật, toàn vẹn và sẵn sàng của dữ liệu hay các ứng dụng trên mạng. Phần mềm có hại có thể gây ra thiệt hại lan rộng ra toàn mạng, và khi đó yêu cầu những nỗ lực tốn kém để khôi phục bảo mật hệ thống và sự tin tưởng của người dùng.
Chúng ta có thể phân chia các mối đe dọa thành năm loại sau:
-
Virut: Các mã sao chép đưa nhân bản của virut vào trong các tập tin dữ liệu hay chương trình trên máy chủ. Virut có thể tấn công cả hệ điều hành lẫn các ứng dụng.
-
Worm: Tự sao chép tới các chương trình mà không cần sự can thiệp người dùng. Worm tự tạo ra bản sao chép của chính mình, và chúng không yêu cầu một chương trình máy chủ để lây lan trong hệ thống.
-
Trojan horses: Một chương trình tự nhân bản, nó có vẻ như vô hại nhưng thực chất lại ẩn giấu nhiều mối nguy hiểm. Trojan horse thường phát tán các công cụ tấn công hệ thống.
-
Mã di động hiểm độc: Phần mềm này với xâm phạm đường truyền từ một hệ thống xa đến hệ thống cục bộ. Những kẻ tấn công truyền virut, worm và Trojan horse tới trạm làm việc của người dùng. Mã di động nguy hiểm khai thác các lỗ hổng bằng cách tận dụng các đặc quyền mặc định và những lỗ hổng chưa được vá của hệ thống.
-
Theo dõi cookie: được sử dụng bởi nhiều trang web, những cookie này cho phép hãng thứ ba tạo ra hồ sơ sở thích người dùng. Kẻ tấn công thường sử dụng việc theo dõi cookie kết hợp với các lỗi web.
Đây là những mối nguy hiểm chính đe dọa người dùng và mạng. Điều gì sẽ xảy ra khi chúng thành công? Một kế hoạch phản công hiệu quả bao gồm sáu bước sau:
1. Chuẩn bị: Phát triển những chính sách và thủ tục chuyên biệt về phần mềm có hại. Kiểm soát việc huấn luyện và hướng dẫn định hướng phần mềm có hại để kiểm tra các chính sách và thủ tục. Xác định các thủ tục có hoạt động hay không trước khi thật sự dùng chúng.
2. Dò tìm và sự phân tích: Triển khai, theo dõi phần mềm diệt virut/spyware. Đọc các hướng dẫn và cảnh báo phần mềm có hại được cung cấp bởi các các hãng diệt virus/spyware. Tạo ra các bộ công cụ trên thiết bị di động có chứa các công cụ cập nhật để nhận biết phần mềm có hại, kiểm tra các quy trình chạy và thực thi nhiều hoạt động phân tích khác.
3. Ngăn chặn: Sẵn sàng tắt máy chủ/trạm làm việc hay khoá các dịch vụ (như e-mail, trình duyệt web hay truy cập Internet) để ngăn chặn sự lây lan của phần mềm có hại. Lựa chọn xem ai có quyền đưa ra quyết định giải quyết vấn đề dựa vào hoạt động của phần mềm có hại. Ngăn chặn sớm có thể dừng sự lan truyền phần mềm có hại và ngăn ngừa thiệt hại cho cả hệ thống trong và ngoài mạng.
4. Diệt trừ: Sẵn sàng sử dụng các kỹ thuật diệt trừ đa dạng để loại bỏ phần mềm có hại từ những hệ thống đang bị nhiễm.
5. Khôi phục: Khôi phục bí mật, toàn vẹn và tính sẵn sàng của dữ liệu trên các hệ thống bị nhiễm và thay đổi các chính sách ngăn chặn nếu cần. Điều này bao gồm cả việc kết nối lại các hệ thống/mạng và xây dựng lại hệ thống đã bị tấn công từ các bản sao lưu hệ thống trước đó. Kế hoạch phản công cần phải đánh giá những rủi rõ khi khôi phục các dịch vụ mạng và dựa vào sự đánh giá này để đưa ra những quyết định quản lý về sự khôi phục các dịch vụ.
6. Báo cáo: Thu nhặt các kinh nghiệm có được sau mỗi lần bị tấn công để ngăn ngừa những biến cố tương tự trong tương lai. Ghi nhận lại những sự thay đổi về chính sách bảo mật, cấu hình phần mềm, và việc thêm sự dò tìm/ngăn ngừa các điều khiển có hại.
Kết bài
Tất cả mọi phương pháp chỉ có tác dụng phòng ngừa, điều quan trọng nhất vẫn là ý thức sử dụng và kiến thức của người dùng. Hãy đào tạo người dùng cách nhận biết sự nhiễm độc và dạy người dùng các bước để không bị lây lan toàn hệ thống
Word -Di chuyển đoạn văn bản:
Trong khi đang soạn thảo, nếu muốn chuyển vị trí của một đoạn văn bản, các bạn có hai cách thực hiện:
1. Dùng chuột: Bôi đen đoạn văn bản rồi dùng chuột kéo-thả đến vị trí mong muốn.
Lưu ý: Nếu bạn muốn copy thêm một đoạn văn bản này ở vị trí mới chứ không phải di chuyển đoạn văn bản đến vị trí đó thì hãy nhấn giữ phím Ctrl trong khi kéo-thả đoạn văn bản.
2. Dùng bàn phím: Đặt con nháy ở đoạn văn bản muốn di chuyển rồi nhấn giữ tổ hợp phím Shift + Alt, sau đó nhấn phím mũi tên lên/xuống để di chuyển đoạn văn bản đến vị trí mong muốn.
Windows - Gọi chương trình từ hộp thoại Run:
Mỗi khi bạn gõ notepad vào hộp thoại Run rồi nhấn Enter, tức thì Notepad sẽ được mở lên. Hay bạn gõ vào calc, nhấn Enter là chương trình Calculator sẽ xuất hiện. Bạn nghĩ rằng do các chương trình này là tiện ích đính kèm theo hệ điều hành Windows nên mới được “ưu ái” như thế? Bạn cũng có thể khởi động các chương trình khác bằng cách này thông qua sự thiết lập trong Registry như sau: nhấn tổ hợp phím Windows + R -> gõ vào regedt32 -> nhấn Enter để mở cửa sổ Registry Editor. Tiếp đó các bạn tìm đến khóa sau: HKEY_LOCAL_MACHINE\ SOFTWARE\Microsoft\ Windows\CurrentVersion\App Paths. Các bạn nhấn chuột phải lên khóa App Paths -> chọn New -> Key, đặt tên cho khóa mới là tên_để_gọi_chương_trình_.exe. Ví dụ tôi muốn sau này mỗi khi gõ tudien vào hộp thoại Run rồi nhấn Enter là chương trình từ điển Lạc Việt sẽ được mở lên thì tôi đặt tên cho khóa này là tudien.exe.
Kế tiếp, các bạn nhấn đúp vào khóa mới tạo, trong phần cửa sổ bên phải, các bạn nhấn chuột phải -> chọn New -> String Value, đặt tên cho giá trị này là Path, sau đó nhấn đúp vào giá trị Path rồi ghi vào đường dẫn file thực thi của chương trình. Nếu vẫn sử dụng ví dụ trên thì tôi sẽ nhập vào đường dẫn là C:\Program Files\mtd2002\mtd2002EVA.exe.
Internet Explorer - Vô hiệu hóa khả năng thiết lập trang chủ:
Nếu bạn không thích việc người khác thay đổi một cách tùy tiện trang chủ được thiết lập trong trình duyệt Internet Explorer, hãy vô hiệu hóa khả năng này bằng sự thay đổi trong Registry như sau: mở cửa sổ Registry Editor rồi tìm đến khóa HKEY_CURRENT_ USER\Software\Policies\ Microsoft\Internet Explorer\Control Panel. Trong phần cửa sổ bên phải, bạn nhấn chuột phải -> chọn New -> DWORD Value, đặt tên cho giá trị này là HomePage. Tiếp đó các bạn nhấn đúp vào giá trị mới tạo và gõ vào khung Value data số 1, cuối cùng nhấn OK.
Sau đó các bạn mở Internet Explorer lên, vào menu Tools -> Internet Options, ở thẻ General, các bạn sẽ thấy phần HomePage đã bị vô hiệu hóa.
Mozilla Firefox - Lưu giữ lại các trang web đang mở:
Một trong những tính năng hữu ích của Mozilla Firefox mà người sử dụng rất thích, đó là cho phép mở nhiều trang web trong một cửa sổ trình duyệt thông qua các tab. Tuy nhiên, cùng với việc đem lại cho người sử dụng cảm giác thoải mái trong quá trình lướt net, tính năng này cũng “giúp” cho chúng ta dễ dàng... tắt hết những trang web đang xem chỉ với một cái nhấn chuột vô tình vào nút X trên trình duyệt! Chính vì thế các bạn hãy vào menu Tools -> Options -> vào phần Advanced (đối với phiên bản Firefox 1.5 Beta 1 các bạn vào phần Tabs) và bảo đảm rằng ô Warn when closing multiple tabs trong đã được đánh dấu chọn.
Một tình huống khác được đặt ra: do một sự cố nào đó như cúp điện làm cho máy vi tính phải khởi động lại và thế là bạn không thể vào lại những trang web đang mở vì không nhớ nổi địa chỉ? Thật bất ngờ là cách thức để giải quyết tình huống này lại vô cùng đơn giản: đang khi duyệt web, để “backup” các tab đang được mở, các bạn vào menu Tools -> Options -> vào phần General -> nhấn nút Use Current Pages -> OK. Bây giờ các bạn thử mở thêm một cửa sổ Firefox nữa xem, tất cả các tab đã “backup” đều được thể hiện đầy đủ
Evolution thật sự là sự phát triển của ứng dụng trên máy khách phần mềm nhóm Linux. Mặc dù Evolution không phải là phần mềm dễ cập nhật nhất, nhưng lại là một trong những giải pháp tốt nhất cho toàn bộ công ty hay cá nhân để đáp ứng những nhu cầu phần mềm nhóm.
Ứng dụng Evolution rất dễ dàng cho những ai lo lắng về kinh nghiệm sử dụng máy tính hệ điều hành Linux: Nó đem lại cảm giác quen thuộc, sử dụng đơn giản và nhiều đặc tính như tất cả các ứng dụng mà Microsoft hay Apple đã đưa ra. Hãy cùng nghiên cứu ứng dụng mạnh trên máy khách này và xem nó đã đem đến cho chúng ta những tiện ích gì.
Lý do sử dụng Elolve
Có nhiều lý do để Evolution thu hút người dùng tại gia đình cũng như nơi công sở. Dưới đây là danh sách những nhân tố quan trọng nhất:
-
Không có virut
-
Hệ thống lọc thư rác
-
Hệ thống Lịch web
-
Nhiều thiết lập tài khoản
-
Hỗ trợ cụ thể
-
Tìm kiếm cấp cao
-
Hợp nhất máy để bàn
-
Hợp nhất trao đổi
Evolution có nhiều đặc tính giống như Outlook:
-
Thư điện tử
-
Lịch
-
Liên hệ
-
Danh sách việc cần làm
-
Ghi nhớ
Đồng thời,ứng dụng có Connector cho phép Evolution kết nối tới Exchange Server.
Cài đặt Evolution
Đa số các ứng dụng Linux cho phép nhiều cài đặt. Bạn có thể lựa chọn sử dụng rpm, apt, apt-get, dpackage, adept, synaptic, yum, yumex, yumi, hoặc từ đầu. Tuy nhiên, vì một vài lý do mà Novell đã loại yum ra khỏi danh sách. Thậm chí trong suốt thời gian cài đặt với apt-get (Trên một iBook có cài đặt Kubuntu) tôi phải đưa vào đĩa CD cài đặt. Evolution thậm chí cũng không cài đặt sử dụng apt. Bởi vậy, tốt nhất là bạn cài bản Evolution gần đây nhất hay là bằng việc biên tập nó từ nguồn hoặc cài đặt phiên bản gần đây nhất tuỳ thuộc vào bạn.
Bạn cần biết
Khi lần đầu tiên kích hoạt Evolution, bạn sẽ phải thực hiện một số cấu hình rất đơn giản để thiết lập một tài khoản thư điện tử. Không có gì ngạc nhiên cả, đây chỉ là thủ tục tiêu chuẩn vận hành khi thiết lập thư điện tử (máy chủ, tên truy cập, định vị, trả lời, tổ chức...). Ngay khi hoàn thành các bước cài đặt ban đầu, bạn có thể sẽ rất ngạc nhiên với những hiển thị trên màn hình. Nó trông giống hệt như Outlook, như mình họa trong hình A; và thậm chí là Evolution hoạt động không khác gì Outlook. Với những người chưa bao giờ sử dụng Linux trước đây bạn sẽ ngạc nhiên trước giao diện người dùng thân thiện và cách sử dụng đơn giản như thế nào.
Giờ đây bạn đã có thể sử dụng Evolution. Hãy cùng dạo một vòng qua giao diện để hiểu rõ hơn bạn có thể làm những gì với Evolution.
Thư điện tử
Chức năng cơ bản của thư điện tử Evolution tương tự như đa số mọi ứng dụng phần mềm nhóm; Mở, Xóa, Trả lời, Trả lời-tới-tất cả, và Thêm người gửi vào danh bạ chỉ là một trong số các tùy chọn cũng giống như bất kỳ tuỳ chọn nào khác của Outlook.
Vậy có điểm gì khác biệt? Thật may mắn là giữa các ứng dụng trên có rất ít sự khác biệt. Đặc tính duy nhất yêu cầu phải ngâm cứu là Junk Filters And Rules tính năng này cho phép người dùng có thể tự tạo ra các bộ lọc và quy tắc cho một thư điện tử vào, phụ thuộc vào những điều kiện được tạo bởi người sử dụng.
Bộ lọc rất đơn giản: khi một thư điện tử rác xuất hiện, người dùng kích chọn thư đó rồi ấn nút “Junk”. Sau đó thư điện tử sẽ tự động được di chuyển tới thư mục Junk. Tuy nhiên thỉnh thoảng việc ấn nút “Junk” không hoàn toàn hiệu quả bởi có những thư điện tử dễ dàng xuyên qua các lỗ hổng. Do đó cần phải đặt ra cácnguyên tắc.
Một nguyên tắc chỉ đơn giản là hành động mà Evolution thực hiện trên thư điện tử dựa vào cấu hình do người dùng đã đặt ra. Có hai cách để tạo ra nguyên tắc. Cách thứ nhất là chọn thư điện tử, nhấn phải chuột vào e-mail đó (từ phần danh sách thư phía trên), rồi chọn Create Rule From Message. Bạn sẽ thấy một trình đơn phụ như Hình B.

Hình B: Không chỉ tạo một nguyên tắc, bạn cũng có thể tạo cả tìm kiếm
Nguyên tắc có thể được tạo ra bởi Tiêu đề thư, người gửi hoặc người nhận. Ngay khi chọn lựa loại nguyên tắc muốn tạo thì bạn sẽ thấy xuất hiện một cửa sổ mới như trong hình C.

Hình C: Bạn có thể thêm nhiều thay đổi cho mỗi nguyên tắc
Bạn thấy đấy, nguyên tắc có thể được tạo bởi người gửi. Bạn có thể thay đổi tiêu chuẩn người gửi này. Từ trình đơn thả xuống đầu tiên (Sender), đổi Sender thành Recipient. Bạn có thể cũng có thể điều chỉnh cụ thể hơn.
Chẳng hạn, giả sử bạn nhận được nhiều thư điện tử từ tên miền yahoo.com và đa số các thư này là spam nhưng bộ lọc rác không kiểm soát được chúng. Bạn có thể tạo ra một quy tắc cho điều này bằng việc áp dụng ô "If" sau đây:
-
Sender: Chọn từ trình đơn thả xuống.
-
Contains: Chọn từ trình đơn thả xuống.
-
Yahoo.com: Nhập vào trong ô văn bản.
Tiếp theo, tới ô "Then" và thiết lập:
-
Move To Folder: Chọn từ trình đơn thả xuống.
Trước khi có thể lựa chọn thư mục Yahoo từ thư mục Evolutionn, trước tiên bạn phải tạo thư mục đó. Để thực hiện điều này, ấn nút Click Here To Select A Folder rồi ấn nút New. Bạn sẽ thấy xuất hiện một màn hình như Hình D.

Hình D: Bạn không thể chọn vị trí thư mục mới nếu chưa tạo nó.
Cửa sổ Create New Folder xuất hiện như Hình E. Tên Yahoo sẽ được nhập và vị trí On This Computer sẽ được lựa chọn. Nhấn nút Create để tạo thư mục mới.

Hình E: Tạo mới một thư mục con
Kích OK và thư mục sẽ được chọn. Bạn đã tạo xong một nguyên tắc. Như có thể thấy trong Hình F, bước còn lại bạn chỉ việc kích OK.

Hình F: Có thể thêm các tùy chọn cho nguyên tắc trước khi hoàn thành
Hãy xem xét các đặc tính khác của Evolution.
Lịch
Giao diện và hoạt động của lịch trong Evolution (như mình họa trong Hình G) tương tự như lịch trên mọi phần mềm nhóm khác. Đây là một đặc tính mạnh và sử dụng đơn giản giống như Outlook.

Hình G: Để truy cập vào lịch, nhấn nút Calendar hoặc [Ctrl][3].
Để thêm các sự kiện vào lịch: Kích đúp vào thời điểm cần tạo sự kiện hoặc nhấn nút New.
Bạn cũng có thể chia sẻ lịch và cho phép hiển thị với những người dùng khác. Để thực hiện điều này, chọn trình đơn Edit rồi chọn Preferences. Cửa sổ minh họa trong Hình 11 được mở và tại đây bạn nhấn nút Calendaring Anh Tasks, sau đó chọn thẻ Calendar Publishing.

Hình H: Bạn có thể thay đổi thời gian rảnh rỗi cũng như thời gian bận.
Nhấn nút Add để bắt đầu thêm một vị trí mới chứa lịch được xuất bản. Lịch có thể được xuất thông qua SSH, WebDAV, FTP, chia sẻ Windows hoặc tuỳ chỉnh.

Hình I: Nếu chọn không cho phép hệ thống ghi nhớ mật khẩu thì bạn sẽ phải nhập lại mật khẩu trước khi xuất bản lịch.
Sổ địa chỉ
Giống như sổ địa chỉ của các ứng dụng nhóm khác, bạn có thể nhập các liên hệ vào Evolution. Để thực hiện điều này, chọn File/ Import. Nhấn nút Forward và chọn đối tượng import vào. Evolution có 2 đối tượng import: import cho từ các máy khách khác và import từ file. Importtừ file có thể là phương pháp bạn cần. Cửa sổ tiếp theo cho phép chọn tập tin và loại tập tin như trong Hình J.

Hình J: Nhấn nút File để xác định vị trí tập tin.
Bước cuối cùng là cấu hình vị trí tập tin sau đó nhấn nút Import. Để thêm mới một địa chỉ, kích phải chuột tại địa chỉ ở giữa e-mail và chọn Add To Address Book.
Kết hợp linh hoạt
Một trong những yếu tố hữu ích nhưng ít được biết đến của Evolution đó là khả năng di chuyển thư điện tử qua một thao tác. Giả sử bạn có một bức thư từ đối tác yêu cầu thực hiện một thao tác; bạn có thể nhấn chuột phải tại e-mail và chọn Convert To Task như trong Hình K.

Hình K: Chọn nơi xuất bản nhiệm vụ; mạng cục bộ hoặc Web.
Ngay khi bạn chuyển đổi thư điện tử thành một nhiệm vụ, thư sẽ còn lại trong Inbox. Trên công cụ Task, thư được chuyển đổi sẽ xuất hiện với tiêu đề như tên nhiệm vụ và nội dung mô tả của thư.
Đồng bộ hóa Evolution không thật sự gây rắc rối; Bạn nên đồng bộ với một PDA, hay tốt hơn là sử dụng chương trình tương tự như J-Pilot.
Kết nối với Microsoft Exchange
Trong nhiều tổ chức, một trong số những hàng rào để sử dụng Linux trên máy để bàn là nhu cầu có khả năng kết nối tới e-mail máy chủ Microsoft Exchange. Từ khi Exchange sử dụng một giao thức riêng để giao tiếp với khách hàng qua thư thì gần như là không thể nào nối tới máy chủ Exchange mà không có sự trợ giúp của Microsoft. Novell cung cấp vấn đề này trên Evolution bằng cách sử dụng Exchange Connector.
Đây không phải một giải pháp hay: Để Evolution Exchange Connect hoạt động thì máy chủ Exchange phải đang chạy Outlook Web Access. Trong trường hợp bạn không quen quen sử dụng nó thì dịch vụ chạy máy chủ Exchange này cho phép người dùng truy cập vào hộp thư thông qua trình duyệt web. Kiểm tra với người quản lý máy chủ Exchange để xem họ đã cung cấp OWA chưa.
Nếu OWA được hỗ trợ trên máy chủ Exchange thì mọi thứ đều dễ dàng. Trên Evolution, hãy tạo một tài khoản mới; chọn Microsoft Exchange tại mục kiểu tài khoản như minh họa trong Hình L.

Hình L: Bạn cần chứng thực Outlook Web Access (OWA).
Bên cạnh đó, kết nối tới máy chủ Exchange thông qua Evolution đơn giản như là thiết lập một tài khoản tiêu chuẩn. Bạn có thể chọn cấu hình thư mục GAL/Active, là cấu hình cục bộ sử dụng để cài đặt Outlook.
Kết luận
Evolution đúng như cái tên của nó; Đây thật sự là sự phát triển của ứng dụng trên máy khách phần mềm nhóm Linux. Mặc dù Evolution không phải là phần mềm dễ cập nhật nhất, nhưng lại là một trong những giải pháp tốt nhất cho toàn bộ công ty hay cá nhân để đáp ứng những nhu cầu phần mềm nhóm ứng dụng thư điện tử mới.
| Công cụ : | Hộp Thư , Tài Khoản , RSS , Từ Điển , Tìm Kiếm , Bản Đồ , Bạn Bè | |
| Cộng đồng : | Sành Điệu , Blog Cafe , Photo , Diễn Đàn | |
| Mua bán : | ÔTô- Xe Máy , Nhà Đất , Rao Vặt , ĐTDĐ | |
| Giải trí : | Phim , Game , Âm Nhạc , Thư Giãn , Video , E-Card | |
| Tuyển dụng : | Việc Làm , Giáo Dục , Cẩm Nang | |
| Thông tin : | Tin Tức , Thể Thao , Nam Giới | |




